Cùng với sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, ngày càng nhiều người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ từ Fintech. Thị trường Fintech Việt Nam cũng không ngoại lệ, thậm chí còn đang đứng trước một thời kỳ phát triển nhanh và trên đà lớn mạnh. Tuy nhiên, đi cùng với những cơ hội phát triển, thị trường Fintech tại Việt Nam gặp không ít thách thức và khó khăn.

I. Thị trường Fintech Việt Nam đón đầu cơ hội

 

Thị trường Fintech Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ

Thị trường Fintech Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ

 

 

Tiềm năng của thị trường Fintech Việt Nam

Số lượng giao dịch phi tiền mặt tại Việt Nam là thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á. Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới, tỉ lệ giao dịch phi tiền mặt tại Việt Nam là 4,9%, thấp hơn rất nhiều so với Thái Lan là 59,7%, Malaysia là 89% và Trung Quốc là 26,1%. Có thể thấy Việt Nam là một thị trường còn rất nhiều tiềm năng có thể khai thác. Với tỷ lệ người dùng smartphone cao đạt mức 72%, kèm theo xu hướng ngành E-commerce đang phát triển nhanh chóng, thị trường Fintech Việt Nam sẽ còn phát triển sôi động trong thời gian tới.

Vào tháng 1 năm 2017, Chính phủ Việt Nam đã dự kiến sẽ giảm đáng kể các giao dịch tiền mặt và cải thiện phương thức thanh toán điện tử vào năm 2020. Theo kế hoạch, đến năm 2020, tổng giao dịch tiền mặt sẽ chiếm ít hơn 10% tổng giao dịch trên thị trường; tất cả các siêu thị, trung tâm mua sắm và nhà phân phối phải chấp nhận thẻ tín dụng; 70% các nhà cung cấp dịch vụ nước, điện tử và viễn thông phải chấp nhận thanh toán phi tiền mặt từ các hộ gia đình và cá nhân và 50% tổng số hộ gia đình ở thành thị sẽ sử dụng các phương thức thanh toán điện tử đối với các giao dịch hàng ngày.

Các chính sách, hỗ trợ của chính phủ

Năm 2016, chính phủ đã thành lập Cơ quan Phát triển Thương mại và Kinh doanh Công nghệ Quốc gia (NATEC). NATEC là một nền tảng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm cung cấp đào tạo, cố vấn, ươm tạo doanh nghiệp và hỗ trợ tài chính cho các công ty khởi nghiệp công nghệ mới.

Chính phủ Việt Nam cũng có các chương trình thuế đặc biệt cho khởi nghiệp trong những điều kiện nhất định. Nó sẽ cung cấp giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các công ty làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao hoặc trong khu công nghệ cao. Thuế suất ưu đãi là 10% trong 15 năm hoặc 17% trong 10 năm, trái ngược với mức thuế suất thông thường là 20%.

Do thiếu lực lượng lao động tài năng để làm việc trong các công ty công nghệ cao , chính phủ Việt Nam hiện đang tập trung vào giáo dục STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học) bằng cách tổ chức giáo dục STEM trong các chương trình giảng dạy ngoại khóa ở các trường phổ thông. Các trường đại học hàng đầu đã bắt đầu đào tạo về khoa học dữ liệu, do đó, tình trạng thiếu lao động trong lĩnh vực này dự kiến ​​sẽ giảm bớt trong ba năm.

Thuế thu nhập doanh nghiệp thấp (20%) với chính sách ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Fintech là các hoạt động nằm trong diện ưu đãi thuế theo Nghị quyết 41/NQ-CP năm 2016.

Môi trường pháp lý tại việt Nam chưa rõ ràng, nhiều vùng xám, tuy nhiên, thị trường Fintech Việt Nam hiện tại chỉ có duy nhất khung pháp lý cụ thể là Trung gian thanh toán. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp được tự do kinh doanh và phát triển sản phẩm mà chưa gặp phải các rào cản pháp lý.

Số lượng quỹ đầu tư và vườn ươm khởi nghiệp lớn với các tên tuổi như VIISA, VSV, Innovatube, Expara, NextTech, VinaCapital; Hỗ trợ Chính phủ đối với các công ty khởi nghiệp với Đề án 844 hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp; Đề án khuôn khổ pháp lý thử nghiệm cho lĩnh vực Fintech (Regulatory Fintech Sandbox) của Ngân hàng Nhà nước (đang trong quá trình xây dựng).

 

II. Thách thức của thị trường Fintech Việt Nam

Các rào cản, thách thức tồn tại trong thị trường Fintech Việt Nam

 

Cơ chế pháp lý

Thách thức lớn nhất có lẽ là hành lang pháp lý mới cho sáng tạo và phát triển của thị trường Fintech cho phát triển của ngân hàng số cũng như hợp tác phát triển giữa ngân hàng và Fintech khi chia sẻ thông tin khách hàng, chia sẻ rủi ro, trách nhiệm giữa các bên với khách hàng trong mô hình kinh tế chia sẻ này; các mô hình kinh doanh mới được số hóa mạnh mẽ và giao dịch qua môi trường mạng không giới hạn về không gian và thời gian sẽ là thách thức lớn cho cơ quan quản lý về thuế, về bảo vệ người tiêu dùng trước những rủi ro ngày một tinh vi hơn. Bên cạnh đó mô hình cho vay P2P lending hiện tại cũng chứa đựng rủi ro lớn do chưa có khung pháp lý bảo vệ. Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa công bố dự thảo quy định quản lý hoạt động này.

Khan hiếm nhân lực

Theo kết quả điều tra của Viện Nhân lực Ngân hàng (Vietnambanker) nhân lực có kỹ năng chuyên môn về tài chính ngân hàng chiếm số lượng rất lớn (trên 90%) nhưng kỹ năng về IT rất kém, và kỹ năng về ngoại ngữ nhất là tiếng Anh cũng không thành thạo. Các kỹ sư công nghệ thường giỏi về IT thì kỹ năng về tài chính không cao, nên việc lập trình ứng dụng gặp nhiều khó khăn trong quá trình lập trình. Nhân lực quản trị cấp cao thường có nhiều chuyên môn về tài chính nhưng khả năng hiểu biết về IT rất ít, nên đấu thầu mua các phần mềm quản trị cũng diễn ra những khó khăn, tốn kém. Thực tế đã có những ngân hàng lãng phí hàng triệu USD mua phần mềm quản trị rủi ro nhưng lại không sử dụng được.

Ngoài ra, thị trường Fintech vẫn còn hạn chế tự do và phát triển. Ví dụ, khó khăn của các công ty trong phân khúc thanh toán điện tử đến từ việc cơ quan quản lý đang coi Fintech giống như một cánh tay nối dài của ngân hàng mà chưa được hoạt động độc lập như một “cá thể” trong hệ thống tài chính. Các ví điện tử chỉ có thể được sử dụng nếu kết nối với các tài khoản ngân hàng sẵn có của người dùng. Bên cạnh đó là khó khăn trong việc mở rộng thị phần do thói quen dùng tiền mặt của người dùng.

Hãy truy cập thường xuyên vào mục Kiến thức Fintech để cập nhật thông tin, xu hướng một cách nhanh chóng và chính xác nhé. Bạn có thể tham khảo: Báo cáo thị trường Fintech Việt Nam 2020 tại đây.